Khái Hưng tên thật là Trần Khánh Giư, bút hiệu khác Nhị Linh, sinh năm 1896 tại làng Cổ Am, phủ Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Dương. Con trai Tuần phủ Trần Thế Mỹ, và là anh ruột Trần Tiêu. Thuở nhỏ học chữ nho, rồi theo Tây học (lycée Albert Sarraut, có nơi ghi Paul Bert). Sau khi đậu tú tài Pháp, ban triết, Khái Hưng dậy ở tư thục 1. (Động) Dọa, hù, làm cho sợ. Như: "hách hách" 嚇 唬 dọa nạt. Hồng Lâu Mộng 紅 樓 夢: "Tình Văn tiếu đạo: Dã bất dụng ngã hách khứ, giá tiểu đề tử dĩ kinh tự kinh tự quái đích liễu" 晴 雯 笑 道: 也 不 用 我 唬 去, 這 小 蹄 子 已 經 自 驚 自 怪 的 了 (Đệ ngũ thập nhất hồi) Tình Văn cười nói: Tôi không cần phải dọa, con ranh ấy đã sợ run lên rồi. 2. Làng ấy (?) [làng Yên Nhiên, phủ Vĩnh Tường] là quê ông Đội Cấn . Ông Cấn chết đi, còn để lại mẹ già. Bà cụ thương con quá, hoá như kẻ dở người. Hễ gặp chúng tao là bà cụ lại ôm choàng lấy vừa khóc vừa nói: "Các cậu! Các cậu! Làm thế nào báo được thù cho Khi đó, Hồ Xuân Hương đã làm bài thơ nổi tiếng "Khóc Tổng Cóc" với những lời lẽ trào phúng để nói về người chồng không ra gì này. Sau khi góa chồng, Hồ Xuân Hương trở về và mở quán nước làm kế sinh nhai rồi sau đó lại trở thành vợ lẽ của ông Phủ Vĩnh tường. Nh ấ t Linh . Vi ễ n S ơ n Nguy ễ n T ườ ng Bách . Nhất Linh tên thật là Nguyễn Tường Tam là một nhà văn xuất chúng, lại là một chiến sĩ cách mạng lỗi lạc chống thực dân và chống Cộng Sản độc tài…. Anh sinh năm 1905, là người con thứ ba trong một gia đình 7 người, trong đó có Nguyễn Tường Thụy, Nguyễn Vâng lệnh Trưng Vương, ông đem quân về cùng hội quân đánh thắng Tô Định thu 65 thành trì, Bà Trưng lên ngôi vua. Ông nói có vị âm thần hộ quốc phù trợ thắng giặc, Trưng Vương nghe thấy sự việc, liền phong tặng vị âm thần làm Đức vua bà, hộ quốc linh phù đại vương Trong tập lại thấy lẫn cả bài Yên Đổ tam nguyên tự trào (?). Như vậy vấn đề văn bản thơ Hồ Xuân Hương rất phức tạp, mà văn bản của cuốn này cũng cần phải qua đối chiếu khảo sát , tạm thời chưa thể xác định Hồ Xuân Hương có phải là tác giả của cả tập hay Bà mất năm 1822, cũng năm đó, không biết trước hay sau khi bà mất, phủ Tam Đới, nơi ông Trần Phúc Hiển, chồng bà, từng làm tri phủ khoảng hơn 10 năm trước, mới đổi tên là phủ Vĩnh Tường. Vậy bài thơ Khóc ông Phủ Vĩnh Tường mà hàng chục năm nay ta cứ gán bừa cho bà Vay Tiền Cấp Tốc Online Cmnd. Khấp Vĩnh Tường Quan Hồ Xuân Hương Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi Cái nợ phù sinh có thế thôi Chôn chặt văn chương ba thước đất Ném tung hồ thỉ bốn phương trời Nắm xương dưới đất chau mày khóc Hòn máu trên tay mỉm miệng cười Đã thế thời thôi cho mát mẻ Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi Bản khắc 1914 Bản khảo dị – Bản khắc 1922 Tựa đề Khấp quan phủ Câu 1 Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi Câu 2 Cái nợ ba sinh đã trả rồi Câu 4 Tung hê hồ thỉ bốn phương trời Câu 5 Cán cân tạo hóa rơi đâu mất Câu 6 Miệng túi càn khôn thắt lại rồi Câu 7 Hăm bảy tháng trời là mấy chốc – Bản Quốc văn tùng ký Tựa đề Khóc ông phủ Vĩnh Tường Câu 1 Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi Câu 2 Cái nợ ba sinh đã trả rồi Câu 4 Tung hê hồ thỉ bốn phương trời Câu 5 Hạt sương dưới chiếu cau mày khóc Câu 6 Giọt máu trên tay mỉm miệng cười Câu 7 Năm bảy tháng trời là mấy chốc Câu 8 Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi – Bản Xuân Hương thi sao Tựa đề Khấp phu quân Vĩnh Tường phủ quan Câu 2 Thân thể coi xem đã khác rồi Câu 6 Miệng túi càn khôn thắt lại thôi Câu 7 Một tháng mấy ngày nên nỗi thế – Bản Tạp thảo tập Tựa đề Hồ Xuân Hương khấp Vĩnh Tường phủ tri phủ Câu 2 Thân thể coi xem đã khác rồi Câu 6 Miệng túi càn khôn thắt lại thôi Câu 7 Một tháng mấy ngày nên nỗi thế – Bản Quế Sơn thi tập Tựa đề Vô đề 10 Câu 2 Ngoài ba mươi tuổi cũng một đời Câu 4 Phá tan hồ thỉ bốn phương trời Câu 7 Vì chữ tình chung nên phải viếng – Bản Xuân Hương thi vịnh Tựa đề Khấp phu vi Vĩnh Tường tri phủ Câu 1 Ngàn năm ông phủ Vĩnh Tường ôi Câu 2 Trống giục chiêng đưa biết mấy hồi Câu 5 Cán cân tạo hóa rơi đâu mất Câu 6 Miệng túi càn khôn thắt lại rồi Câu 7 Liệu nẻo mà đi cho mát mẻ Câu 8 Ngàn năm ông phủ Vĩnh Tường ôi – Bản Đăng khoa lục sưu giảng Tựa đề Điếu quan phủ Vĩnh Tường Câu 2 Võng giá nghênh ngang xếp cả rồi Câu 5 Vướng chân trong ngục ôm lòng khóc Câu 6 Chảy máu trên tay mỉm miệng cười Câu 7 Phúc quả công danh phó trả trời Các Bạn Đang Xem Bài Viết Bài Thơ “Khấp Vĩnh Tường Quan” – Hồ Xuân Hương Của Tác Giả Hồ Xuân Hương Trong Tập Thơ Nôm Truyền Tụng – Hồ Xuân Hương Tại Blog Truy Cập Blog Thường Xuyên Để Xem Nhiều Bài Viết Mới Hàng Ngày Nhé! Đây là Blog chia sẻ miễn phí. Bạn được toàn quyền trích dẫn và sử dụng lại nhưng không được chỉnh sửa hoặc thay đổi nội dung bài viết. Hãy thể hiện mình là người có văn hóa bằng cách dẫn nguồn để tôn trọng tác giả. Chúc các bạn vui vẻ! Facebook - Twitter Reader Interactions Tiếng Việt[sửa] Cách phát âm[sửa] IPA theo giọng Hà Nội Huế Sài Gòn xawk˧˥kʰa̰wk˩˧kʰawk˧˥ Vinh Thanh Chương Hà Tĩnh xawk˩˩xa̰wk˩˧ Chữ Nôm[sửa] trợ giúp hiển thị và nhập chữ Nôm Cách viết từ này trong chữ Nôm Động từ[sửa] khóc khóc Chảy nước mắt vì xúc động, vì đau xót. Chị vừa chạy, vừa khóc, nhưng khóc không ra tiếng Nguyên Hồng Nói trẻ em kêu gào. Con có khóc mẹ mới cho bú. tục ngữ Tỏ lòng thương tiếc bằng lời than vãn, lời văn, bài thơ. Nguyễn Khuyến khóc Dương Khuê; Hồ Xuân Hương khóc ông phủ Vĩnh Tường. Than phiền. Khóc vì nỗi thiết tha sự thế, ai bày trò bãi bể nương dâu Cung oán ngâm khúc Dịch[sửa] chảy nước mắt, trẻ em kêu gào Tiếng Anh to cry, to weep, to burst into tears, to shed tears Tiếng Pháp pleurer Tiếng Tây Ban Nha llorar Tiếng Trung Quốc 哭 khốc, ku Tham khảo[sửa] "khóc". Hồ Ngọc Đức, Dự án Từ điển tiếng Việt miễn phí chi tiết Thông tin chữ Hán và chữ Nôm dựa theo cơ sở dữ liệu của phần mềm WinVNKey, đóng góp bởi học giả Lê Sơn Thanh; đã được các tác giả đồng ý đưa vào đây. chi tiết Khấp Vĩnh Tường Quan Hồ Xuân Hương Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi Cái nợ phù sinh có thế thôi Chôn chặt văn chương ba thước đất Ném tung hồ thỉ bốn phương trời Nắm xương dưới đất chau mày khóc Hòn máu trên tay mỉm miệng cười Đã thế thời thôi cho mát mẻ Trăm năm quan phủ Vĩnh Tường ôi Bản khắc 1914 – Bản khắc 1922 Tựa đề Khấp quan phủ Câu 1 Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi Câu 2 Cái nợ ba sinh đã trả rồi Câu 4 Tung hê hồ thỉ bốn phương trời Câu 5 Cán cân tạo hóa rơi đâu mất Câu 6 Miệng túi càn khôn thắt lại rồi Câu 7 Hăm bảy tháng trời là mấy chốc – Bản Quốc văn tùng ký Tựa đề Khóc ông phủ Vĩnh Tường Câu 1 Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi Câu 2 Cái nợ ba sinh đã trả rồi Câu 4 Tung hê hồ thỉ bốn phương trời Câu 5 Hạt sương dưới chiếu cau mày khóc Câu 6 Giọt máu trên tay mỉm miệng cười Câu 7 Năm bảy tháng trời là mấy chốc Câu 8 Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi – Bản Xuân Hương thi sao Tựa đề Khấp phu quân Vĩnh Tường phủ quan Câu 2 Thân thể coi xem đã khác rồi Câu 6 Miệng túi càn khôn thắt lại thôi Câu 7 Một tháng mấy ngày nên nỗi thế – Bản Tạp thảo tập Tựa đề Hồ Xuân Hương khấp Vĩnh Tường phủ tri phủ Câu 2 Thân thể coi xem đã khác rồi Câu 6 Miệng túi càn khôn thắt lại thôi Câu 7 Một tháng mấy ngày nên nỗi thế – Bản Quế Sơn thi tập Tựa đề Vô đề 10 Câu 2 Ngoài ba mươi tuổi cũng một đời Câu 4 Phá tan hồ thỉ bốn phương trời Câu 7 Vì chữ tình chung nên phải viếng – Bản Xuân Hương thi vịnh Tựa đề Khấp phu vi Vĩnh Tường tri phủ Câu 1 Ngàn năm ông phủ Vĩnh Tường ôi Câu 2 Trống giục chiêng đưa biết mấy hồi Câu 5 Cán cân tạo hóa rơi đâu mất Câu 6 Miệng túi càn khôn thắt lại rồi Câu 7 Liệu nẻo mà đi cho mát mẻ Câu 8 Ngàn năm ông phủ Vĩnh Tường ôi – Bản Đăng khoa lục sưu giảng Tựa đề Điếu quan phủ Vĩnh Tường Câu 2 Võng giá nghênh ngang xếp cả rồi Câu 5 Vướng chân trong ngục ôm lòng khóc Câu 6 Chảy máu trên tay mỉm miệng cười Câu 7 Phúc quả công danh phó trả trời Bài thơ hay các bạn vừa xem là bài “Khấp Vĩnh Tường Quan” của tác giả Hồ Xuân Hương. Thuộc tập Thơ Nôm Truyền Tụng, danh mục Thơ Hồ Xuân Hương trong Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng. Hãy cùng đọc và thưởng thức những tác phẩm khác, còn rất nhiều những bài thơ hay đang chờ đợi các bạn! Tập thơ bản gốc, chỉ có duy nhất 1 bản, bị thất lạc nhiều năm, rất may, theo một nguồn tin mà tôi được biết, Viện Văn học Việt Nam đã tìm lại được. Theo nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại, thì chữ Lưu có bộ ngọc ở bên, chỉ quê hương Quỳnh Lưu, không phải là lưu biệt hay lưu truyền, còn Hương là tên tác giả Hồ Xuân Hương. Vậy đây là thơ của người Quỳnh Lưu tên là Xuân Hương, đã được ký ghi lại. Đặc biệt, nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại khẳng định “LHK là một tài liệu chân chính, đáng tin cậy và trong trường hợp này, không thể có vấn đề, có kẻ nào đó muốn chơi khăm, làm ra tài liệu giả mạo để đánh lạc hướng nghiên cứu của chúng ta”. LHK và lai lịch phát hiện nó - Trần Thanh Mại, toàn tập, tập III, Nhà xuất bản Văn học, 2004 .Tượng đài nữ sĩ Hồ Xuân Hương được đặt tại khu đền thờ của dòng họ Hồ tại làng Quỳnh Lưu, Nghệ đây, báo Văn Nghệ số ra ngày 26/5/2018 có đăng bài của nhà thơ Thạch Quỳ “Về bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường của Hồ Xuân Hương”. Trong bài này, ông Thạch Quỳ đã có một nhận xét rất đúng và rất đáng chú ý “Rõ ràng là đang có vấn đề khúc mắc và chưa hợp lý ở đây!”. Ông nhận ra như thế, nhưng cách lý giải của ông trong việc tìm ra ngọn nguồn bài thơ lại có tính suy đoán. Mà ông cũng nói rõ ràng là ông chỉ suy đoán có thể là như vậy thôi. Vì ông được coi là ông phủ Vĩnh Tường đã chết vì án tử hình năm 1819, mà 3 năm sau, năm 1822, mới có tên phủ Vĩnh Tường. Hay là bà HXH trở về nơi có tên mới là phủ Vĩnh Tường sau năm 1822?Ông Thạch Quỳ thấy trong tập thơ LHK của HXH không có bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường, thực ra, toàn bộ thơ Nôm được truyền tụng và được coi là của HXH, số này theo các tài liệu biên khảo là non 200 bài, sau thu lại còn khoảng 50 - 60 bài, với khoảng 130 dị bản - vì là thơ dân gian, mỗi nơi, mỗi người, chép mỗi khác, rồi cứ thế mà đem in, do bán rất chạy - trong đó có khoảng 20-30 bài được in đi in lại nhiều lần, coi là “bản chính thức của thơ Nôm truyền tụng HXH”. Tất cả đều có một nét chung là nói về “cái ấy” và “chuyện ấy”…. và đều không có trong LHK. Và những dấu ấn đó được coi là “độc đáo, kỳ lạ”, mà trong công trình nghiên cứu của nhà thơ Xuân Diệu, viết và sửa trong 22 năm 1958 - 1980 HXH Bà Chúa thơ Nôm có đoạn, Xuân Diệu viết “hiện tượng độc đáo kỳ lạ, có thể nói là có một không hai trong văn học Việt Nam, có lẽ trong văn học thế giới. Đó là một kỹ nữ” trang 377- 378, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, NXB Văn học, 1988 - tác phẩm đã được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật, đợt 1 năm 1996. Sách Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, Trung tâm Từ điển học và Nhà xuất bản Đà Nẵng, in năm 2002, do GS. Hoàng Phê chủ biên, có bút tích của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, giải nghĩa Kĩ nữ là gái mại dâm là làm đĩ. Còn nhà thơ họ Hồ Quỳnh Đôi không phải là “kỹ nữ” thì đã rõ, không cần phải bàn. Trong bài Tựa của Tốn Phong in ở đầu tập LHK, HXH nói với Tốn Phong rằng “Đây là toàn bộ thơ của cuộc đời tôi từ trước đến nay, nhờ ông viết cho một bài tựa”. Vậy theo lời của chính HXH thì bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường và tất cả các bài thơ Nôm truyền tụng đã nói trên, vẫn gán cho bà - những bài hoàn toàn không có trong tập LHK - là không phải thơ của bà vậy. Đánh giá thơ bà mà lại cứ tự ý và đơn phương gạt bỏ ý kiến xác nhận bản quyền của chính tác giả là rất buồn cười và hoàn toàn không khoa học. Đây cũng chính là việc chúng ta cần làm, để trả lại giá trị đích thực cho bà, minh oan cho bà là bà không từng là kỹ nữ, ở trong các “nhà chứa”, trong các “lầu xanh”, như một số sách giai thoại và biên khảo trước đó đã in ra, từ trước và sau năm 1913, mà Xuân Diệu căn cứ vào đó để viết đoạn văn đã dẫn ông “phủ Vĩnh Tường” là ai? Là ông Trần Phúc Hiển, chồng bà HXH, từng làm quan Tham hiệp trấn Yên Quảng tỉnh Quảng Ninh hiện nay bị tử hình năm 1819 vì tội ăn hối lộ 700 quan tiền, trong việc giải quyết đất đai tại châu Hải Ninh, thuộc trấn/tỉnh này. Năm 1822 phủ Tam Đái nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc mà ông Hiển từng làm quan ở đó 10 năm trước, mới đổi tên là phủ Vĩnh Tường. Vậy ông Hiển “không liên quan gì đến hai chữ Vĩnh Tường”, ông Thạch Quỳ nói đúng. Xin lưu ý, năm 1822, cũng chính là năm bà HXH mất theo bia đá dựng ở đầu làng bà ở Nghệ An, ghi rõ bà mất năm 1822 thì rất có thể, chính bà HXH cũng không hề biết có phủ tên là phủ Vĩnh Tường. Và như thế, bà HXH cũng “không liên quan gì đến hai chữ Vĩnh Tường”.Ông Tốn Phong nhận xét Thơ HXH “xuất phát từ cảm hứng nhưng biết dừng lại ở phạm vi lễ nghĩa. Vui mà không đến nỗi buông tuồng...”. Đọc lời Tựa LHK mới thấy Tốn Phong nhận xét thơ HXH, tháng 3 năm 1814, như thế là rất chuẩn xác. Xin hãy đọc toàn bộ LHK để thấy HXH “học rộng mà thuần thục, dùng chữ ít mà đầy đủ, từ mới lạ mà đẹp đẽ, thơ đúng phép tắc mà văn hoa, thực là một bậc tài nữ”, như nhận xét rất đúng của Tốn Phong. Tuyệt đối không có bất cứ một câu nào, một chữ nào, hay một “ý tại ngôn ngoại” nào… ngay cả kẻ gian dâm có đọc thơ bà trong tập đúng là của bà này, cũng không bao giờ thấy váng vất “cái ấy” và “chuyện ấy”, với nhiều góc nhìn cận cảnh và các động tác cụ thể chỉ có ở “cánh mày râu”… Thơ thật của bà, đúng như ông Tốn Phong đã khẳng định giá trị, hoàn toàn không phải thế. Đẳng cấp xã hội phải là quý tộc và phẩm chất thơ của bà phải như thế nào có văn hóa cao, hào hoa trang nhã - đúng như nó đã có trong LHK - mới được Tùng Thiện vương Miên Thẩm, con trai thứ 10 của vua Minh Mạng, em ruột vua Thiệu Trị, cháu nội vua Gia Long nhà Nguyễn, chú ý, đọc và viết về bà những dòng thơ rất trân trọng và đồng cảm như trong bài Long Biên trúc chi từ 1842 mà nhiều người đã biết. Và tôi tin, tác giả LHK nhà nghiên cứu Trần Thanh Mại đã khẳng định “LHK là một tài liệu chân chính” - đã dẫn ở trên, dứt khoát không thể viết những câu rất mất vệ sinh “Chành ra ba góc, da còn thiếu”/“Trưa trật nào ai móc kẽ rêu“/“Dưới khe nước rỉ mó lam nham…” vân vân và vân vân…, vì 2 loại thơ này, trái ngược nhau như nước với lửa. Đây là thơ Nôm dân gian đầu thế kỷ XX, sớm nhất cũng là cuối thế kỷ XIX - nghĩa là sau khi bà đã mất từ 50 - 60 năm đến non 100 năm, mới có năm 1842, khi Tùng Thiện vương viết Long Biên trúc chi từ, chắc chắn chưa có - với ngụ ý chống mọi lề thói phong kiến cổ hủ ràng buộc con người và thói đạo đức giả “Ban ngày quan lớn như thần/Ban đêm quan lớn lần mần như ma” mà có người cho là thơ của Nguyễn Công Trứ, thời Nguyễn. Bài thơ Khóc ông phủ Vĩnh Tường… nằm trong số ấy. Tôi rất tin là không bao giờ có một bà vợ, dù ngu độn hoặc dở người đến mấy, lại khóc chồng chưa kể chồng chết vì tội phải tử hình mà khóc là cái “cán cân tạo hóa” của ông đã rơi mất và cái “miệng túi càn khôn” của tôi đã khép lại từ lúc ông chết rồi… rất thiếu văn hóa và vô cùng phản cảm… chúng ta đều biết hai cái đó là cái gì rồi; bây giờ trong gia đình của bất cứ ai, nếu có một bà vợ khóc chồng chết mà khóc như thế, liệu anh em con cháu nhà chồng có để cho bà ta yên không? Gán bài thơ này cho bà, vô hình trung, chúng ta đã xúc phạm bà. Còn thơ dân gian thì lại khác, hoàn toàn khác. Nhưng ta không bàn điều đó tại đó tôi nghĩ, đây là thơ dân gian như nhà nghiên cứu rất đáng kính Trần Thanh Mại đã viết, đó là thơ “nhảm nhí” của “đám mày râu chúng ta”, làm ra cho vui, qua sự nhuận sắc và truyền bá của các ông đồ, rồi cứ thế mà gán cho bà. Tất nhiên, về ý thức phản phong và giá trị nghệ thuật, nó phải thật sự có giá trị thì mới tồn tại được cùng với Truyện Trạng Quỳnh và Truyện Trạng Lợn… Bây giờ đã ở thế kỷ XXI, với tầm trí tuệ của ngày hôm nay, cái điều “uẩn khúc và chưa hợp lý” này, đã có thể làm rõ và kết thúc được rồi. Vấn đề chỉ còn ở chỗ, ta có “dám” kết thúc nó hay không mà thôi, bởi nó đã được Giáo sư Lê Tâm đưa vào sách giáo khoa từ năm 1950 và từ đó tồn tại đến nay, đã trải qua rất nhiều thế hệ. Nhưng tôi rất tin, vấn đề này sẽ được giải quyết dứt điểm và sòng phẳng trên tinh thần khoa học, chỉ còn là thời gian, sớm hơn hay muộn hơn mà thôi. Văn thư lưu trữ mở Wikisource Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếmKhóc ông phủ Vĩnh Tường của Hồ Xuân Hương Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi! Cái nợ ba sinh đã trả rồi. Chôn chặt văn chuơng ba thước đất, Tung hê hồ thỉ bốn phương trời. Cán cân tạo hóa rơi đâu mất, Miệng túi càn khôn khép lại thôi. Hăm bảy tháng trời là mấy chốc, Trăm năm ông phủ Vĩnh Tường ôi! Tác phẩm này, được phát hành trước ngày 1 tháng 1 năm 1928, đã thuộc phạm vi công cộng trên toàn thế giới vì tác giả đã mất hơn 100 năm trước. Lấy từ “ Thể loại PVCC-cũThơ NômThất ngôn bát cú

khóc ông phủ vĩnh tường